Hỗ trợ thủ tục xác định cha cho con tại Hà Nội

Thủ tục xác định cha cho con tại Hà Nội - Thủ tục xác định cha cho con là một quy trình quan trọng, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc xác định quan hệ huyết thống. Quy trình này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng của người con trong việc thừa kế tài sản, nhận hỗ trợ nuôi dưỡng mà còn giúp xác lập trách nhiệm pháp lý của người cha. Để mọi người hiểu rõ hơn, Luật Minh Khang có bài viết hướng dẫn cụ thể và chi tiết như sau:

Cơ sở pháp lý

  • Luật hôn nhân gia đình 2014
  • Luật hộ tịch 2014
  • Thông tư 04/2020/TT-BTP

Quy định về xác định cha cho con tại Hà Nội

Theo Điều 90 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền nhận cha mẹ con như sau:

- Quyền nhận cha, mẹ:

+ Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.

+ Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha.

- Quyền nhận con:

+ Cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết.

+ Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia.

Hỗ trợ thủ tục xác định cha cho con tại Hà Nội
Hỗ trợ thủ tục xác định cha cho con tại Hà Nội

Các các trường hợp nhận cha con theo quy định pháp luật.

Đối với thủ tục nhận cha con hiện nay có rất nhiều trường hợp:

  • Nhận cha con ngoài giá thú.
  • Nhận cha con khi chưa đăng ký kết hôn.
  • Nhận cha con để làm giấy khai sinh.
  • Nhận cha con có yếu tố nước ngoài.
  • Thủ tục nhận cha cho con tại Tòa án.

Ai là người có quyền yêu cầu xác nhận cha, mẹ cho con

Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có quy định về người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con như sau:

Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014

Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

  • Cha, mẹ, con, người giám hộ;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
  • Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
  • Hội liên hiệp phụ nữ

Thẩm quyền xác định cha cho con tại Hà Nội

Căn cứ theo quy định tại Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con được quy định như sau:

  • Cơ quan đăng ký hộ tịch (Ủy ban nhân dân) có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.
  • Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Khoảng 4 Điều 16 Thông tư 04/2020 cũng quy định như sau:

"4. Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật"

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Cần phải lưu ý về vấn đề thẩm quyền, vì có vụ việc thuộc thẩm quyền của Ủy ban, có vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Luật Minh Khang hỗ trợ thủ tục xác nhận cha con tại Tòa án và Ủy ban

Thủ tục xác định cha cho con tại Hà Nội

Trình tự, thủ tục yêu cầu Tòa án xác nhận cha, mẹ cho con

Người có yêu cầu xác định cha, mẹ, con buộc phải làm hồ sơ khởi kiện dân sự yêu cầu tòa án xác nhận cha, mẹ, con tới Tòa án có thẩm quyền.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm:

1. Đơn khởi kiện (Mẫu số 23 – DS ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ – HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao ban hành ngày 13//01/2017).

2. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu chứng cứ chứng minh kèm theo đơn:

  • CCCD, sổ hộ khẩu của các bên;
  • Giấy khai sinh của người con cần xác định (bản sao chứng thực);
  • Giấy tờ chứng minh rằng giữa người yêu cầu và người bị yêu cầu có quan hệ cha, mẹ, con.

Sau khi nhận được đơn khởi kiện do đương sự nộp, Tòa án phải nhận đơn khởi kiện xem xét và đưa ra quyết định. Nếu Tòa án quyết định thụ lý vụ án thì sẽ giải quyết theo trình tự quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự: hòa giải, chuẩn bị xét xử, xét xử sơ thẩm…

Sau quá trình giải quyết Tòa án ra quyết định công nhận hoặc bản án công nhận quan hệ cha con. Sau đó mang kết quả được Tòa án giải quyết đến Ủy ban nhân dân cấp xã để làm thủ tục thay đổi thông tin và họ tên con trong giấy khai sinh.

Căn cứ theo Khoản 4 và khoản 5 Điều 189, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ ghi nhận về mặt thẩm quyền và căn cứ vào việc có hay không có tranh chấp để xác định thủ tục giải quyết là vụ hay việc, chứ không quy định rõ thế nào là có tranh chấp khi có yêu cầu về xác định cha, mẹ, con, dẫn đến thực tiễn áp dụng đôi khi Tòa án chưa thống nhất trong thụ lý giải quyết đối với các trường hợp có Tòa án thụ lý vụ án dân sự, có Tòa án lại thụ lý việc dân sự đối với những vụ việc tương tự nhau. Bên cạnh đó, do chưa thống nhất khi xác định thế nào là có tranh chấp, tranh chấp về vấn đề gì, các bên trong quan hệ tranh chấp này là ai (chỉ giữa những người là cha, mẹ, con hay bất kỳ ai có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc xác định cha, mẹ, con - ví dụ như những người thừa kế…) dẫn đến có những trường hợp Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ con theo thủ tục giải quyết việc dân sự do nhận định không có tranh chấp, do xem đây là một loại yêu cầu thuộc khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, nếu chiếu theo khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu xác định cha, mẹ, con trong trường hợp đó lại không thuộc thẩm quyền của Tòa án

Thủ tục nhận cha cho con tại Ủy ban

Thủ tục đăng ký nhận cha mẹ con tại UBND cấp xã

Thủ tục đăng ký nhận cha mẹ con tại UBND xã được quy định tại Điều 25 Luật Hộ tịch 2014 và Điều 14, Điều 15 Thông tư 04/2020/TT-BTP như sau:

* Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt. Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp các giấy tờ cho cơ quan đăng ký hộ tịch bao gồm:

- Tờ khai đăng ký nhận cha mẹ con;

- Chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con gồm:

+ Văn bản của cơ quan y tế, cơ quan giám định hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền ở trong nước hoặc nước ngoài xác nhận quan hệ cha con, quan hệ mẹ con.

+ Trường hợp không có chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định thì các bên nhận cha, mẹ, con lập văn bản cam đoan về mối quan hệ cha, mẹ, con theo quy định, có ít nhất hai người làm chứng về mối quan hệ cha, mẹ, con.

* Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người đăng ký nhận cha, mẹ, con ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.

* Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 05 ngày làm việc.

Thủ tục đăng ký nhận cha mẹ con tại UBND cấp huyện

Thủ tục đăng ký nhận cha mẹ con tại UBND cấp huyện theo Điều 44 Luật Hộ tịch 2014 như sau:

- Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai đăng ký nhận cha mẹ con và giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con theo mục 3.1 cho cơ quan đăng ký hộ tịch.

Trường hợp đăng ký nhận cha, mẹ, con giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thì người nước ngoài phải nộp thêm bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu để chứng minh về nhân thân.

- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, công chức làm công tác hộ tịch xác minh, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở UBND cấp huyện trong thời gian 07 ngày liên tục,

Đồng thời gửi văn bản đề nghị UBND cấp xã nơi thường trú của người được nhận là cha, mẹ, con niêm yết trong thời gian 07 ngày liên tục tại trụ sở UBND cấp xã.

- Phòng Tư pháp báo cáo và đề xuất Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định việc đăng ký nhận cha, mẹ, con, nếu thấy đủ điều kiện thì Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết.

- Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt; công chức làm công tác hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng các bên ký vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch UBND cấp huyện cấp trích lục cho các bên.

Quy định về đăng ký cha mẹ con trong một số trường hợp đặc biệt

Theo Điều 16 Thông tư 04/2020/TT-BTP quy định về đăng ký nhận cha mẹ con, bổ sung hộ tịch trong một số trường hợp đặc biệt như sau: (1) Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, sinh con, người con sống cùng với người cha, khi người cha làm thủ tục nhận con mà không liên hệ được với người mẹ thì không cần có ý kiến của người mẹ trong Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con. Nếu có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ thì phần khai về người mẹ được ghi theo Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ. Nếu không có Giấy chứng sinh và giấy tờ tuỳ thân của người mẹ thì ghi theo thông tin do người cha cung cấp; người cha chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp. (2) Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, đã được đăng ký khai sinh nhưng không có thông tin về người cha, nay vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì không phải làm thủ tục nhận cha, con mà làm thủ tục bổ sung hộ tịch để ghi bổ sung thông tin về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của người con. (3) Trường hợp con do người vợ sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn, chưa được đăng ký khai sinh mà khi đăng ký khai sinh, vợ chồng có văn bản thừa nhận là con chung thì thông tin về người cha được ghi ngay vào Giấy khai sinh của người con mà không phải làm thủ tục đăng ký nhận cha, con. (4) Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật. Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con theo quy định.

Những vướng mắc khi xác định cha mẹ con theo thủ tục tư pháp 

a) Sự tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các cơ quan được giao xác định cha mẹ con Xác định cha mẹ con trong hôn nhân và gia đình là việc xác nhận mối quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con: Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì phải căn cứ trên cơ sở tình trạng hôn nhân của người mẹ để xác định cha cho con. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. Khi người vợ sinh con trong thời kỳ hôn nhân thì đứa trẻ được khai sinh tại Ủy ban nhân dân; người chồng của mẹ đứa trẻ được khai là cha của đứa trẻ. Như vậy việc xác định cha cho con trong trường hợp này được thực hiện tại cơ quan hành chính nhà nước đó là Ủy ban nhân dân. Trường hợp người chồng của người mẹ đứa trẻ không thừa nhận đứa trẻ là con của họ thì có quyền yêu cầu Tòa án xác định. Đây thuộc trường hợp có tranh chấp và được giải quyết theo thủ tục tư pháp. Khi khởi kiện ra Tòa án người chồng phải đưa ra những chứng cứ để chứng minh rằng họ không phải là cha của đứa trẻ. Vấn đề khó khăn trong việc xác định thẩm quyền được đặt ra với trường hợp xác nhận cha mẹ cho con ngoài hôn nhân ; con ngoài giá thú thường do người phụ nữ không có chồng sinh ra hoặc tuy người phụ nữ đang có chồng nhưng người chồng đã chứng minh, chứng tỏ rằng người con đó không phải là con của họ. Như vậy việc cha mẹ nhận con có thể thông qua thủ tục hành chính trong trường hợp không có tranh chấp và không thuộc trường hợp pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Căn cứ theo quy định pháp luật hiện hành việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh yêu cầu xác nhận cha mẹ con còn phụ thuộc vào tính chất vụ việc có tranh chấp hay không có tranh chấp và các quy định của pháp luật khác. Trường hợp có tranh chấp: Thẩm quyền giải quyết của Tòa án được thực hiện theo khoản 4 Điều 28 BLTTDS 2015. Trường hợp không có tranh chấp nhưng theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình do Tòa án giải quyết. Tại Điều 29 BLTTDS 2015 đã ghi nhận Tòa án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc xác định cha mẹ con mà pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định. b) Thủ tục tố tụng để thụ lí giải quyết vụ án trong trường hợp cha mẹ con đã chết Có những vụ án đương sự khởi kiện ra Tòa án yêu cầu xác định cha mẹ cho con mà người cha hoặc người mẹ được yêu cầu xác định là cha, mẹ của cháu bé đã chết hoặc trong trường hợp cả người cha người mẹ của cháu đều đã chết. Điều này không chỉ liên quan đến thủ tục tố tụng, từ việc thụ lý thông báo thụ lý, hòa giải đến việc đưa ra xét xử tại phiên tòa mà còn liên quan đến vấn đề xác định chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện. Vấn đề bất cập đó chính là những người thân của người chết đó không đồng ý cung cấp mẫu để giám định ADN thì chưa có cơ chế nào hữu hiệu để xác định được quan hệ trong trường hợp này. Hoặc nếu có khai quật tử thi lên thì cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. c) Quy định về người có quyền yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha mẹ con Bất cập này chỉ ra trong trường hợp cha mẹ đã chết mà người chết đó không có yêu cầu xác định cha, mẹ, con nhưng người thân thích của người đã chết lại muốn làm đơn đề nghị xác định đứa trẻ là cháu, là người thân của họ thì lại chưa có căn cứ pháp lý để họ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi đó việc xác định tư cách chủ thể khởi kiện, theo Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định các nhóm chủ thể có quyền trực tiếp yêu cầu Tòa án giải quyết việc xác định cha mẹ con. Ví dụ người tự nhận là ông bà nội của cháu bé không thể tự khởi kiện yêu cầu xác định cháu bé là con đẻ của con trai đã chết của mình do không thuộc trường hợp quy định của pháp luật liệt kê

Luật Minh Khang hỗ trợ thủ tục xác định cha cho con tại Hà Nội

Luật Minh Khang hỗ trợ thủ tục nhận cha cho con như sau:

  • Tư vấn quy định pháp luật về thủ tục xác nhận cha, mẹ cho con.
  • Hỗ trợ soạn thảo văn bản yêu cầu xác nhận cha, mẹ cho con;
  • Hỗ trợ thu thập giấy tờ nếu còn thiếu;
  • Hướng dẫn chứng minh quan hệ huyết thống;
  • Chuẩn bị hồ sơ đầy đủ để gửi Ủy ban nhân dân, Tòa án có thẩm quyền xử lý;
  • Nhận ủy quyền để thay mặt khách hàng giải quyết các thủ tục hành chính có liên quan;
  • Cùng khách hàng tham gia trong quá trình giải quyết vụ việc.

Thông tin liên hệ

Luật Minh Khang  với phương châm hoạt động "Trao giá trị - Nhận niềm tin". Chúng tôi tự tin là đơn vị có nhiều kinh nghiệm làm việc tại các Tòa án, Ủy ban, các cơ quan tố tụng khác. Với đội ngũ Luật sư, chuyên viên trẻ năng động Luật Minh Khang tự tin hỗ trợ khách hàng một cách nhanh chóng, tiện lợi và tiết kiệm chi phí nhất.

Quý khách hàng cần hỗ trợ vui lòng liên hệ cho chúng tôi theo cách thức sau:

Luật Minh Khang hỗ trợ tư vấn Miễn phí nên khách hàng hoàn toàn yên tâm, chúng tôi chỉ thu phí thực hiện công việc cụ thể. Chính vì vậy, nếu quý khách có vấn đề vướng mắc hãy liên hệ qua số điện thoại hoặc nhắn tin Zalo để được hỗ trợ nhanh chóng và tốt nhất.