Trách nhiệm vật chất đối với người lao động được hiểu là trách nhiệm pháp lý do người sử dụng lao động áp dụng đối với người lao động liên quan đến bồi thường những thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm kỷ luật lao động hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm gây ra trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động. Trường hợp hành vi vi phạm kỷ luật của người lao động gây thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động thì ngoài việc bị áp dụng cách hình thức kỷ luật, người lao động còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động. Vậy, trách nhiệm vật chất đối với người lao động được áp dụng như thế nào, và pháp luật hiện tại liên quan đến trách nhiệm vật chất đối với người lao động còn tồn tại những bất cập gì, Kỷ luật lao động trách nhiệm vật chất sẽ là những vấn đề được Luật Minh Khang giải đáp sau đây:
Cơ sở pháp lý
- Bộ luật Lao động 2019
Khái niệm kỷ luật lao động là gì?
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, kỉ luật lao động được hiểu là:
“Chế độ làm việc đã được quy định và sự chấp hành nghiêm túc đủng đan của mỗi cấp, mỗi nhóm người, mỗi người trong quá trình lao động. Tạo ra sự hài hoà trong hoạt động của tất cả các yếu tổ sản xuất, liên kết mọi người vào một quả trình thống nhất”
Bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994 cũng như Bộ luật lao động năm 2019 đều quan niệm “kỉ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian công nghệ, điều hành sản xuất kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động của đơn vị” (Điều 82 Bộ luật lao động năm 1994 và Điều 118 Bộ luật lao động năm 2019). Kế thừa và phát huy tinh thần các quy định trên đồng thời để làm rõ nghĩa hơn khái niệm này, Bộ luật lao động năm 2019 ( Điều 117) quy định:
“Kỉ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định ”.
hời gian, kỉ luật về điều hành, kỉ luật về công nghệ và bảo an, kỉ luật về bảo mật và tài sản. Những nhóm kỉ luật này chủ yếu chỉ xoay quanh quan hệ lao động. Như vậy, theo pháp luật lao động Việt Nam, kỉ luật lao động gồm bốn nhóm chính. Đó là nhóm kỉ luật về t và sự ổn định sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao và do pháp luật lao động quy định.

Trách nhiệm vật chất được hiểu như thế nào?
Trách nhiệm vật chất đối với người lao động được hiểu là trách nhiệm pháp lý do người sử dụng lao động áp dụng đối với người lao động liên quan đến bồi thường những thiệt hại về tài sản do hành vi vi phạm kỷ luật lao động hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm gây ra trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động.
Căn cứ để áp dụng trách nhiệm vật chất
Để áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động thì người sử dụng lao động phải có những căn cứ nhất định. Đó là những điều kiện cần và đủ để người sử dụng lao động có thể áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động do mình quản lý, sử dụng. Cũng như các loại trách nhiệm bồi thường khác như trách nhiệm dân sự, kinh doanh thương mại, việc áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động cũng cần phải có 4 căn cứ bao gồm: “
- Có hành vi vi phạm kỷ luật;
- Có thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động;
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra;
- Có lỗi của người vi phạm ”
Trách nhiệm vật chất có thể được người sử dụng lao động áp dụng khi người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động. Điều 117, Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019 quy định “Kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh do người sử dụng lao động ban hành trong nội quy lao động và do pháp luật quy định”.
Từ quy định nêu trên, có thể hiểu rằng kỷ luật lao động là những quy định thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ mà người lao động phải chấp hành được thể hiện tại các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực lao động, nội quy lao động hoặc thỏa thuận hợp pháp giữa người lao động và người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động không chấp hành hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo quy định thì phải chịu những hệ quả pháp lý tương ứng, trong đó có trách nhiệm vật chất.
Tuy nhiên, không phải mọi hành vi vi phạm kỷ luật đều có thể bị áp dụng trách nhiệm vật chất, người lao động chỉ phải chịu trách nhiệm vật chất nếu hành vi vi phạm kỷ luật đó gây ra thiệt hại về tài sản cho người sử dụng lao động. Thiệt hại để áp dụng trách nhiệm vật chất trong lĩnh vực lao động phải là những thiệt hại trực tiếp, thực tế đã xảy ra, không bao gồm những thiệt hại gián tiếp, thiệt hại hình thành trong tương lai. Đây cũng là điểm đặc trưng để phân biệt trách nhiệm vật chất trong lĩnh vực lao động với các lĩnh vực pháp luật khác như: Lĩnh vực thương mại “giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm ” hay lĩnh vực dân sự “Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần”
Mặt khác, để được áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động thì người sử dụng lao động cũng phải chứng minh được lỗi của người lao động và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra; hành vi vi phạm kỷ luật lao động là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại xảy ra và thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm kỷ luật lao động. Nếu không có mối quan hệ nhân quả giữa lỗi và thiệt hại thì dù có đủ hai căn cứ là hành vi vi phạm kỷ luật và thiệt hại xảy ra, người lao động cũng sẽ không phải chịu trách nhiệm vật chất. Trường hợp người lao động không có lỗi hoặc thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm như“ do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép” (4) thì người lao động không phải bồi thường.
Bốn căn cứ nêu trên là những điều kiện bắt buộc phải có và phải chứng minh khi người sử dụng lao động muốn áp dụng trách nhiệm vật chất đối với người lao động; ngoài ra khi áp dụng trách nhiệm vật đối với người lao động thì người sử dụng lao động phải xem xét đến các yếu tố khác như hoàn cảnh kinh tế gia đình, nhân thân, tài sản của người lao động.
Các trường hợp áp dụng trách nhiệm vật chất
Theo quy định tại Điều 129, Bộ luật Lao động 2019 thì trách nhiệm vật chất đối với người lao động được áp dụng trong các trường hợp sau:
- người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị;
- người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản;
- người lao động làm tiêu hao vật tư quá định mức cho phép;
- người lao động có hành vi khác gây thiệt hại về tài sản cho người lao động.
Mức bồi thường thiệt hại
Điều 129 và khoản 1, Điều 130, Bộ luật Lao động 2019 quy định trách nhiệm vật chất và mức bồi thường thiệt hại liên quan đến trách nhiệm vật chất đối với người lao động. Theo đó, tương ứng với từng lỗi vi phạm, mức độ thiệt hại thực tế, hoàn cảnh gia đình, nhân thân của người lao động, tài sản (khả năng tài chính) của người lao động mà mức bồi thường thiệt hại sẽ khác nhau đối với từng hành vi vi phạm và từng cá nhân người lao động. Cụ thể:
- Đối với hành vi làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị nếu người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng, với giá trị thiệt hại không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, do sơ suất thì chỉ phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương nhưng cũng không vượt quá thiệt hại thực tế đã xảy ra.
- Đối với hành vi làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản; làm tiêu hao vật tư quá định mức cho phép; hành vi khác gây thiệt hại về tài sản của người sử dụng lao động thì mức bồi thường là một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc theo nội quy lao động hoặc theo hợp đồng trách nhiệm (nếu có).
Bộ luật lao động 2019 đề cập đến thiệt hại không nghiêm trọng về tài sản (Điều 129), thiệt hại nghiêm trọng và thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản (Điều 125); tuy nhiên lại mới chỉ quy định như thế nào là “thiệt hại không nghiêm trọng” mà chưa quy định như thế nào là “thiệt hại nghiêm trọng và thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng” dẫn đến không có sự thống nhất về định mức, quan điểm giữa các doanh nghiệp liên quan đến thiệt hại nghiêm trọng và thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng mặc dù cùng một lĩnh vực pháp luật điều chỉnh. Do vậy, người viết cho rằng pháp luật cần có những quy định cụ thể hơn về thiệt hại nghiêm trọng và thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng.
Mặc dù, yếu tố “lỗi” là một trong những căn cứ rất quan trọng trong việc xác định mức bồi thường thiệt hại; tuy nhiên “lỗi” quyết định như thế nào đến mức bồi thường thiệt hại hay có những loại lỗi nào thì chưa được quy định cụ thể.. Pháp luật dân sự quy định “lỗi bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý (5)”,đồng thời định nghĩa rõ về “lỗi cố ý”; “lỗi vô ý”; khoa học hình sự cũng định nghĩa cụ thể “cố ý phạm tội”, “vô ý phạm tội” (6) nhằm dễ dàng phân biệt và phân loại hệ quả pháp lý áp dụng. Tại Điều 129, Bộ luật lao động 2019 có xuất hiện cụm từ “do sơ suất”; sơ suất có nghĩa là “không cẩn thận, không chú ý đúng mức dẫn đến để có sai sót (7)”. Vì lý do gì mà “sơ suất” lại được quy định thành một trường hợp đặc biệt để xác định mức bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm vật chất đối với người lao động; và “sơ suất” đối chiếu theo quy định của pháp luật dân sự hay pháp luật hình sự là “lỗi cố ý” hay “lỗi vô ý”. Mặc dù người viết hiểu rằng sẽ có nhiều quan niệm cho rằng “sơ suất” là hành vi vô ý, nhưng để có cách hiểu thống nhất thì pháp luật lao động nên phân loại “lỗi” hoặc vận dụng những quy định về “lỗi” trong pháp luật dân sự để áp dụng đối với những quy định liên quan đến trách nhiệm vật chất nhằm tạo sự thống nhất và rõ ràng trong cách hiểu và áp dụng. Theo đó, có thể quy định theo hướng đối với những thiệt hại về tài sản do lỗi vô ý thì người lao động chỉ phải bồi thường một phần thiệt hại; mức độ bồi thường có thể giới hạn theo từng mức độ thiệt hại tương tự như pháp luật lao động hiện tại quy định đối với trường hợp “gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất”; hoặc có thể ấn định tỉ lệ mức bồi thường tính trên thiệt hại thực tế xảy ra. Trường hợp do lỗi cố ý thì người lao động phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế đã xảy ra.
Luật Minh Khang tư vấn dịch vụ Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất
- Tư vấn về hợp đồng lao động:
- Tư vấn về độ tuổi giao kết hợp đồng lao động;
- Tư vấn về các hình thức hợp đồng lao động;
- Tư vấn về nội dung hợp đồng lao động;
- Tư vấn về thử việc;
- Tư vấn về bồi thường chi phí đào tạo khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;
- Tư vấn về tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động;
- Tư vấn về chấm dứt hợp đồng lao động;
- Tư vấn về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
- Tư vấn về bồi thường thiệt hại khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;
- Tư vấn về tiền lương:
- Tư vấn về hình thức trả lương;
- Tư vấn về trả lương trong trường hợp ngừng việc;
- Tư vấn về chế độ phụ cấp lương, thưởng, chế độ nâng lương cho người lao động;
- Tư vấn về tạm ứng lương cho người lao động.
- Kỷ luật và bồi thường vật chất:
- Tư vấn về các hình thức kỷ luật lao động;
- Tư vấn về thủ tục tiến hành kỷ luật lao động;
- Tư vấn về Trình tự, thủ tục xử lý việc bồi thường thiệt hại;
Thông tin liên hệ
Luật Minh Khang với phương châm hoạt động "Trao giá trị - Nhận niềm tin". Chúng tôi tự tin là đơn vị có nhiều kinh nghiệm làm việc tại các Tòa án, Ủy ban, các cơ quan tố tụng khác. Với đội ngũ Luật sư, chuyên viên trẻ năng động Luật Minh Khang tự tin hỗ trợ khách hàng một cách nhanh chóng, tiện lợi và tiết kiệm chi phí nhất.
Quý khách hàng cần hỗ trợ vui lòng liên hệ cho chúng tôi theo cách thức sau:
- Số điện thoại: 0964853889
- Zalo - Viber - Tele: 0964853889
- Email: luatminhkhang.hn@gmail.com
Luật Minh Khang hỗ trợ tư vấn Miễn phí nên khách hàng hoàn toàn yên tâm, chúng tôi chỉ thu phí thực hiện công việc cụ thể. Chính vì vậy, nếu quý khách có vấn đề vướng mắc hãy liên hệ qua số điện thoại hoặc nhắn tin Zalo để được hỗ trợ nhanh chóng và tốt nhất.